» Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh

20-12-2016 | 13:34 (638 lần truy cập)

Bài học còn nguyên giá trị trong bảo vệ Tổ quốc

Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 là một dấu ấn đặc biệt, thể hiện tư duy sắc bén, tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ tối cao trong những thời khắc quan trọng của lịch sử dân tộc, để lại nhiều bài học quý báu cho hôm nay và mai sau.


»Nữ cán bộ Đoàn 7 lần hiến máu tình nguyện»
»Lan tỏa thi đua, nhân lên động lực»

Các chiến sĩ vệ quốc quân và nhân dân Thủ đô chiến đấu trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Ảnh: Tư liệu

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, ngay sau khi tuyên bố nền độc lập dân tộc, nước Việt Nam non trẻ đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Niềm vui độc lập mà nhân dân Việt Nam được hưởng thật ngắn ngủi, với dã tâm xâm lược, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Trước thực tế ấy, bằng tất cả khả năng có thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tìm mọi cách để giữ gìn hòa bình. Từ việc phải ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3, chấp nhận cho một bộ phận nhỏ quân đội Pháp kéo vào Hà Nội; cử phái đoàn đàm phán ở Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Phông-ten-nơ-blô; đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp, trực tiếp ký Tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9; rồi liên tiếp những ngày đầu tháng 12/1946 gửi thư cho Quốc hội và Chính phủ Pháp để tố cáo, lên án các hành động khiêu khích, tàn sát nhân dân của quân đội Pháp, kêu gọi vãn hồi hòa bình... Nhưng tất cả những thiện chí ấy đều không được người Pháp đáp lại, bởi vì họ chỉ có một mục tiêu là xóa bỏ Chính phủ của Cụ Hồ Chí Minh.

Trước hoàn cảnh ngặt nghèo đó, ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, trong đó nhấn mạnh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt thì phải đứng lên chống thực dân Pháp”.

Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống anh hùng, bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và bản lĩnh trí tuệ của người Việt Nam, với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Sau 9 năm thực hiện Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, nhân dân Việt Nam đã làm nên một “Điện Biên lịch sử - lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954), công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Một nửa đất nước được giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi sau này. Những dấu tích của những năm tháng hào hùng có thể bị bào mòn bởi thời gian, nhưng âm hưởng, tầm vóc, ý nghĩa và những bài học lịch sử để lại đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, rất cần chắt lọc, vận dụng một cách sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Thứ nhất, đó là bài học về quyết định thời điểm phát động cuộc kháng chiến toàn quốc đúng lúc, đúng thời cơ. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động và ra Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” vào thời điểm chín muồi nhất, đúng lúc, đúng thời cơ nhất, do đó đã đem lại kết quả to lớn, tránh tổn thất cho ta, giảm sức của địch.

Thứ hai, đó là bài học về quyết tâm sắt đá bảo vệ độc lập, tự do. Nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam là bất khả xâm phạm. Trách nhiệm của mỗi con dân đất Việt là phải giữ vững nền độc lập, tự do ấy. Do đó, khi phải đối mặt với kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần là thực dân Pháp, cho dù tình thế đất nước gặp muôn vàn khó khăn, thì chúng ta luôn luôn phải giữ vững quyết tâm sắt đá để bảo vệ nền độc lập, tự do. Bài học đó được khơi nguồn từ dặm dài lịch sử, được phát huy cao độ trong những ngày “Toàn quốc kháng chiến”, trải dài cùng dòng chảy thời gian nó vẫn mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Thứ ba, đó là bài học về sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đúng đắn, sáng tạo. Để có quyết định kháng chiến toàn quốc kịp thời, đúng lúc, thì trước đó, từ ngày 5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”, nêu rõ: Tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình, kháng chiến, cơ quan chỉ đạo kháng chiến, những điều răn trong khi kháng chiến, các khẩu hiệu chỉ đạo hành động trong kháng chiến... Chính đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng đã khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc, khai thác, động viên được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc Việt Nam.

Đã 70 năm, đất nước ta trải qua nhiều sự kiện chính trị lớn và tiến những bước dài, tình thế đã có nhiều thay đổi, nhưng lời kêu gọi thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc của Bác Hồ vẫn khắc sâu trong tâm khảm mỗi người Việt Nam. Hiện nay, trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến” đã để lại cho chúng ta bài học quý giá, đồng thời cũng là lời cảnh báo đối với các thế lực xâm lược rằng: Mỗi khi Tổ quốc Việt Nam bị xâm lăng thì cả dân tộc Việt Nam sẽ nhất tề đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Một dân tộc hơn 90 triệu người, với ý chí, quyết tâm thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, chúng ta có đủ sức mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bất kể chúng lớn mạnh thế nào và từ đâu tới.


THÀNH CÔNG